Đối thoại cứu độ là gì ?

   

   Thành ngữ đối thoại cứu độ bắt đầu trở nên quen thuộc trong Giáo Hội hôm nay. Nội dung thành ngữ này là gì, thì chưa được bàn luận sâu rộng trong giới thần học gia, cũng chưa được quần chúng Kitô-giáo biết nhiều. Nhưng hơn bao giờ hết, ngày hôm nay, Giáo Hội muốn suy nghĩ đào sâu và ứng dụng thành ngữ này vào công việc loan báo Tin Mừng.

   Muốn hiểu đối thoại cứu độ là gì, trước hết phải nghĩ đến lịch sử cứu độ Có nhiều cách để tìm hiểu và học hỏi về lịch sử cứu độ: có cách nhìn từ trên, từ phía Thiên Chúa, chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện dần dần trong lịch sử; có cách nhìn từ dưới nhấn mạnh hành trình của nhân loại bước theo tiếng gọi của Thiên Chúa. Cách nhìn thứ ba là một cách nhìn hai chiều, coi lịch sử cứu độ như một cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và nhân loại.

   Với cái nhìn hai chiều, lịch sử cứu độ được nới rộng ra, bao hàm trong đó lịch sử các tôn giáo, nhất là bình diện cứu độ học của các tôn giáo. Dưới cái nhìn hai chiều về lịch sử cứu độ, tôn giáo có thể được coi như là sự đối thoại giữa Thiên Chúa với con người, bắt nguồn từ Thiên Chúa, trong Ý Muốn Cứu Độ của Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước. Thiên Chúa ngỏ lời với chúng ta trước.

   Tôn giáo tự bản chất là quan hệ giữa con người với Thiên Chúa. Về phía con người, việc cầu nguyện diễn tả quan hệ đó. Còn Mặc Khải là tương quan siêu nhiên mà chính Thiên Chúa đã thiết lập với nhân loại. Mặc Khải có thể được coi là Đối Thoại giữa Thiên Chúa với nhân loại, nơi mà Lời Thiên Chúa nói bằng Biến Cố Nhập Thể và sau đó bằng Tin Mừng.

   Giao lưu giữa Thiên Chúa với con người bị gián đoạn bởi tội nguyên tổ đã được tái lập cách kỳ diệu trong lịch sử. Lịch sử cứu độ tường thuật cuộc đối thoại dài và đa dạng bắt nguồn từ Thiên Chúa, kết nối với loài người thành một đàm thoại lạ lùng và nhiều màu sắc.

   Chính trong cuộc đàm thoại giữa Chúa Kitô với loài người, Thiên Chúa cho chúng ta hiểu một chút gì về Người, về mầu nhiệm đời sống Ba Ngôi của Người. Nơi Chúa Kitô, Thiên Chúa nói Lời Cuối Cùng, và muốn cho nhân loại biết Người như thế: Người là Tình Yêu. Người cũng muốn được phụng thờ và tôn vinh như thế. Do đó giới răn yêu thương là giới răn lớn nhất.

   Chúa Kitô là Đỉnh Cao của đối thoại giữa Thiên Chúa và loài người: Tình Yêu của Thiên Chúa được biểu lộ viên mãn và đầy tin tưởng. Giáo Hội của Chúa Kitô, tiếp nối sứ vụ của Người, phải đối thoại với thế giới, nơi mình đang sống.

   Giáo Hội đang trở thành Lời, trở thành Sứ Điệp, trở thành Đàm Thoại. Giáo Hội nói về tình Thương của Thiên Chúa mạc khải nơi Chúa Kitô; Giáo Hội nói về ơn Cứu Độ của Thiên Chúa, về Sự Sống, về Hạnh Phúc mà Thiên Chúa muốn chia sẻ cho nhân loại nơi Chúa Giêsu Kitô. Giáo Hội mời gọi mọi người thông phần vào Sự Sông và tình Yêu Của Thiên Chúa.

   Cũng như Chúa Giêsu, Giáo Hội không muốn độc thoại, mà muốn đối thoại, đó là Đối Thoại Cứu Độ, bắt nguồn từ Thiên Chúa là Alfa, Nguyên Thủy, Cội Nguồn và quy về Thiên Chúa là Ômêga, Cùng Đích, Cứu Cánh của nhân loại và mọi loài thụ tạo. 

Phaolô BÙI VĂN ĐỌC

   Giám Mục Giáo phận MỸ THO

Về ơn Cứu Độ ngoài Kitô Giáo

Thánh Gioan, một trong các tông đồ, thấy một người không trong nhóm các môn đệ nhân danh Chúa Giêsu mà trừ quỷ liền cấm người này làm thế. Khi ông thuật lại điều này với Chúa Giêsu, Chúa phán với ông rằng “Đừng ngăn cản người ta …vì ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9:39, 40). 

Đây là chủ đề có một tầm quan trọng hiện nay. Chúng ta nghĩ thế nào về những người ngoại, những người ăn ở nhân lành và có những dấu chỉ của Thần Khí, mặc dù không tin nơi Đức Kitô và không thuộc về Giáo Hội. Họ có thể được cứu rỗi không? 

Thần học đã luôn nhìn nhận khả năng, theo đó, Thiên Chúa có thể ban ơn cứu độ cho một số người theo những cách thức bên ngoài những cách thức thông thường là có đức tin nơi Đức Kitô, chịu phép rửa tội và là thành viên của Giáo Hội.  

Xác tín này đã được củng cố thêm trong thời đại tân tiến này, sau các khám phá địa lý và những tiến bộ trong khả năng truyền thông giữa các dân tộc khiến cho cần thiết phải ghi nhận rằng có vô số những con người, mà không phải lỗi tại họ, đã không hề được nghe lời công bố Tin Mừng, hay nghe trong một cách thế không phù hợp, từ những người đi chinh phục đất mới hay những kẻ thực dân lừa đảo, đến mức khó có thể chấp nhận được.  

Công Đồng Vaticanô II dạy rằng “Thánh Thần, trong một cách thế chỉ mình Chúa biết, ban cho mọi người khả năng được liên kết với mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, và do đó, được cứu rỗi” [“Gaudium et Spes – Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng” số. 22].  

Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu dường như đòi hỏi hai điều từ những người “ngoại”: họ không “chống” lại Ngài, nghĩa là họ không tích cực chống lại đức tin và các giá trị của đức tin, chẳng hạn, họ không tự nguyện đặt mình chống lại Thiên Chúa. Thứ hai, nếu họ không thể phụng sự và yêu mến Thiên Chúa, tối thiểu, họ phụng sự và yêu mến hình ảnh của Ngài, là con người, đặc biệt, những người đang cần giúp đỡ. Thật vậy, đoạn Tin Mừng tiếp tục nói về những người “ngoại” với những lời sau: “Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Kitô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu”. 

Tuy nhiên, sau khi minh xác về tín lý, tôi tin cũng thực cần thiết để sửa đổi một số sai lầm khác: thái độ nội tâm của chúng ta, tâm lý của chúng ta như những tín hữu. Ta có thể hiểu, nhưng không thể chia sẻ, mâu thuẫn khó che đậy của một số tín hữu khi thấy đặc quyền liên quan đến đức tin vào Chúa Kitô và địa vị thành viên trong Giáo Hội của mình sụp đổ. Người ta nói: “Vậy thì là một Kitô hữu tốt có ích gì cơ chứ?”

Trái lại, chúng ta nên vui mừng vô biên trước những khai mở mới này của thần học Công Giáo. Biết rằng anh chị em bên ngoài Giáo Hội cũng có cơ may được cứu rỗi thì còn có gì có sức giải thoát và thuyết phục về lòng quảng đại và ý chí vô biên của Thiên Chúa hơn là lời này “Đấng muốn cho mọi người được cứu độ” (1 Tm 2:4). Chúng ta hãy biến ao ước của Môsê thành ước vọng của chính chúng ta như đã được ghi trong bài đọc thứ Nhất Chúa Nhật XXVI thường niên: “Phải chi ĐỨC CHÚA ban Thần Khí trên toàn dân của Người!”. (Ds 11:29). …

Điều mà chúng ta nên làm là nhấn mạnh đến lý do tích cực hơn là lý do tiêu cực. Lý do tiêu cực là thế này: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi vì ai không tin vào Ngài sẽ bị kết án muôn đời”; lý do tích cực là thế này: “Hãy tin vào Chúa Giêsu, bởi vì thật là tuyệt vời để được tin nơi Ngài, được biết Ngài, để được có Ngài kề bên như Đấng cứu độ trong cuộc sống và trong giờ chết”.

RANIERO CANTALAMESSA,

 thần học gia Phủ Giáo Hoàng

J.B. Đặng Minh An dịch

Tâm sự của một thanh niên đồng tính ở Trung Quốc

Tác giả: Rian Dundon (New America Media)

Người dịch: Nguyễn Hà Sơn

LTS – Ðây là bản dịch từ bài “A Hidden Life: Being Gay in Rural China” đăng trên website của New America Media. Người Việt dịch và đăng bài này với sự đồng ý của New America Media.

Xiao Wang mân mê tấm biểu hiệu tử vi Song Ngư đeo trên cổ, trong khi anh hút một hơi dài từ điếu thuốc lá trên môi. “Tôi cũng đã tặng một tấm Song Ngư giống như tấm này cho người bạn tình của tôi,” Wang tươi cười nói và ngả lưng trên chiếc ghế trong phòng ngủ của anh tại ký túc xá.

Wang- một sinh viên đại học 21 tuổi trong một thành phố lớn ở vùng Trung-Nam Trung Quốc- nói chuyện một cách thoải mái và tự tin về đời sống và khuynh hướng tình dục đồng tính của mình, về những hoài nghi và hy vọng cho tương lai. Nhưng những lúc trở về nhà cha mẹ trong một thị trấn nhỏ vùng thôn quê thì anh phải sống với cái gánh nặng của sự bí mật mà cho tới nay anh vẫn phải giấu giếm gia đình.

Anh giải thích: “Hiện thời tôi không thể cho gia đình biết. Ðời sống, tiền bạc, sự giáo dục của tôi, tất cả đều tùy thuộc vào gia đình. Cha tôi trợ cấp cho tôi mọi thứ. Khi nào tôi có việc làm và có thể sống tự lập thì lúc đó tôi phải nói cho gia đình biết. Quả thật tôi muốn cho họ biết.”

Chính phủ Trung Quốc ước tính hiện thời có khoảng 30 triệu đàn ông và đàn bà đồng tính sống trong nước này. Trong năm ngoái, trường Ðại Học Phục Ðán (Fudan University) nhiều uy tín ở Thượng Hải đã mở một khóa học đầu tiên về đề mục đồng tính luyến ái. Ðiều này có thể là dấu hiệu cho thấy cả chính phủ trung ương lẫn những vùng thành thị chính yếu của Trung Quốc bắt đầu chấp nhận khuynh hướng tình dục này trong giới công dân của họ. Nhưng trong những vùng nông thôn hoặc những thị trấn nhỏ, từ ngữ “đồng tính luyến ái” bị người ta miệt thị, hoặc thậm chí phủ nhận sự hiện hữu. Nhiều người dân nói rằng khuynh hướng đồng tính luyến ái không hề hiện hữu ở Trung Quốc, hoặc họ nói rằng đó chỉ là một sản phẩm từ ảnh hưởng của Tây phương.

Wang cho biết anh nhận ra mình là người đồng tính từ khi còn nhỏ, và lúc đầu đã tìm hiểu về khuynh hướng tình dục của mình qua sách vở, rồi sau đó qua Internet. Anh chưa bao giờ nói cho bất cứ ai trong thị trấn nhỏ ở vùng quê của mình, trong tỉnh Hà Nam, biết về chuyện thầm kín này, và đã tìm cách thoát ra khỏi sự tù túng ngay khi anh có cơ hội đi học đại học tại một thành phố lớn. Theo tập quán của dân chúng ở vùng quê, gia đình anh đã chọn một đứa con được đi học, trong khi đứa con khác ở lại nhà với cha mẹ. Họ đã gửi Wang đi học ngành y khoa trong một thành phố cách nhà họ hai tỉnh.

Tại trường, Wang không giấu giếm về khuynh hướng tình dục của mình và nói rằng nếu những người mà anh giao thiệp biết về chuyện này thì cũng chẳng sao. Tuy Wang biết rằng xã hội Trung Quốc nói chung chưa chấp nhận những người như anh, nhưng anh buồn lòng về thái độ quá nhút nhát và sự che đậy của những người đồng tính khác.

Anh nói: “Tôi không giao thiệp với những người đồng tính ở đây vì họ rất khác tôi. Họ luôn luôn lo sợ bị người ta biết họ là người đồng tính. Bạn tình của tôi không giống như vậy. Anh ấy giống tôi về phương diện này.”

Wang tươi cười mỗi khi nhắc tới người bạn tình đồng tính của mình – người đó vẫn còn là một học sinh trung học. Thời khóa biểu đi học 60 giờ mỗi tuần của người bạn tình có nghĩa là hai người thường chỉ gặp nhau trong những ngày cuối tuần. Bất kể điều trở ngại này và sự bí mật mà cả hai người phải giấu gia đình họ. Wang nói rằng họ rất yêu nhau.

Vào những ngày cuối tuần, khi những show trên sân khấu trở thành nóng hơn, người ta thấy rõ rằng quán rượu này phục vụ cho một giới khách hàng đặc biệt. Những lời đồn truyền miệng đã lôi cuốn những người đàn ông trẻ tuổi và lớn tuổi rủ nhau tới gian phòng rộng lớn đã được biến cải thành một rạp hát. Tại đây họ ngồi bên nhau xung quanh những cái bàn nhỏ, uống nước trà và bia trong khi nói chuyện lớn tiếng với nhau. Những người đến đây một mình thì thường ngồi trong bóng tối, hút hết điếu thuốc này lại châm điếu khác, trong khi đảo mắt như thể muốn tìm kiếm người nào đó trong đám đông.

Ðêm nay có những màn trình diễn rất gợi cảm, khi những nam vũ công chỉ che đậy chút ít thân thể uốn éo xung quanh những cây cột nhỏ và sà xuống đám khán giả và ngồi trên đùi họ. Tới lúc này, Wang không còn kiềm chế được sự hứng thú. Anh cười hớn hở và điều chỉnh chỗ ngồi để có thể xem rõ hơn.

Nhận xét một cách tổng quát, những người đàn ông ở đây có những hành vi lễ phép và tỉnh táo (nhiều người không có đủ tiền để uống bia). Cách xử sự ở đây là mọi người thân thiện với nhau, không chú tâm vào tình dục. Wang giải thích: “Tôi không kết bạn với những người trong các quán rượu, vì không phải mọi người đều tử tế. Một số những quán loại này có những người xấu đến chơi.”

Giống như nhiều cặp đồng tính khác ở Trung Quốc, Wang và bạn tình của anh đã kết bạn với nhau qua Internet.

Anh nói: “Trên Internet chúng tôi có thể tìm hiểu lẫn nhau. Khi chúng tôi cảm thấy ưa mến nhau thì chúng tôi sẽ hẹn hò để gặp mặt.”

Khi chúng tôi trở về phòng ngủ trong ký túc xá của Wang, anh mời khách uống nước nóng và xin lỗi rằng anh vừa hết trà. Những bản dịch sang tiếng Trung Hoa từ những tác phẩm của Baudelaire và Schopenhauer nằm bên cạnh chiếc giường của Wang. Anh cười và nói rằng các tác giả này cũng là những người đồng tính.

Anh nói: “Tuy mẹ tôi là con của một gia đình nông dân, nhưng bà có tinh thần phóng khoáng; không giống như cha tôi, tuy ông là một bác sĩ, nhưng ông bảo thủ. Mẹ tôi bẩm sinh là người phóng khoáng, giống như tôi bẩm sinh là người đồng tính.”

Theo Nguoiviet-online

Lễ tạ ơn

Cali Today News – Nhân ngày lễ Tạ Ơn chúng tôi xin được viết vắn tắt vài nét về nguồn gốc của ngày lễ Tạ Ơn để làm quà quí vị trong ngày lễ. Chúc quí vị ngày lễ Tạ Ơn hưởng nhiều ân phúc của trời đất và gia đình hạnh phúc.

NHỮNG BẤT MÃN CỦA NHÀ THỜ Ở ANH QUỐC

Sớm nhất ở thập niên 1660 chính phủ Anh Quốc chỉ cho phép người dân được đi lễ một nhà thờ gọi là The Church of England ( sở dĩ có chuyện này là bắt đầu từ đời vua Henry thứ VIII muốn ly dị vợ nhưng Đức Giáo Hoàng không cho phép, và sau đó ông đã giết chết người vợ và ra lệnh ngăn cấm không cho các tín đồ đi lễ nhà thờ Công Giáo). Điều ngăn cấm này đã làm cho nhiều người Anh bất mãn họ đòi hỏi chính phủ phải cho họ được quyền tự do tôn giáo. Vì những bất mãn đó có nhiều người đã di cư sang Holland năm 1609. Nhóm người này được gọi là nhóm “The Puritans” họ sinh sống và phát triển mạnh mẽ ở Holland nhưng họ luôn lo ngại con cái khi lớn lên sẽ học nói tiếng Holland và quên đi phong tục tập quán của người Anh.

CUỘC DU HÀNH.

Cuộc hành hương đến Hoa Kỳ của tàu Mayflower ngày 6 tháng 09 năm 1620 người ta không rỏ số thủy thủ đoàn là bao nhiêu. Nhưng số khách hành hương trên tàu được biết gồm có các tín đồ Pilgrims mà họ gọi là Saints và những nhóm người khác không cùng nhóm gọi là Strangers. Chuyến hải hành chỉ kéo dài vài tuần lễ, nhưng có một số người bị bệnh và một số chết vì cảm lạnh, lý do là chiếc tàu Mayflower đóng bằng gỗ cho nên không thể thiết lập hệ thống lò sưởi, phần thì gỗ dễ bắt lạnh và không giữ được độ ấm. Chuyến hải hành quá lâu cho nên đã xảy ra nhiều bất mãn giữa các tín đồ nhóm Saints và nhóm Stranger.

TÀU MAYFLOWER

Sau khi tàu Mayflower vừa nhìn thấy đất liền, thì họ mở ra một cuộc hội thảo và cuối cùng cả hai nhóm đồng thỏa thuận với nhau là kết lại thành một nhóm và viết thành văn bản. Thảo hiệp này bảo đảm sự bình đẳng cho hai nhóm và gọi chung là tín đồ hành hương Pilgrims

MÙA ĐÔNG ĐẦU TIÊN.

Sau chuyến hải hành quá dài, tàu Mayflower đã cập bến Plymounth phía Bắc Cap Cod bang Massachusetts vào tháng 09, đúng vào mùa đông cho nên đã gây nhiều trở ngại, khó khăn cho nhóm người hành hương trồng trọt những loại hoa quả. Mùa đông đầu tiên thật cay nghiệt cho những người mới định cư này. Thời tiết thì lạnh, tuyết rơi nhiều đã làm cản trở công việc xây cất nhà cửa để trú ngụ. Vì thế sau mùa đông đầu tiên số tín đồ hành hương (Pilgrims) chỉ còn sống sót được phân nửa.

NGƯỜI DA ĐỎ.

Vào 16 tháng 03 năm 1621 dân da đỏ Samoset đã đến vùng định cư của người Pilgrims đã làm cho nhiều người sợ sệt nhưng sau đó anh trấn an mọi người bằng câu tiếng Anh là “ Hân hạnh đoán tiếp các anh” Tuy thế, nhưng giữa anh Samoset và nhóm Pilgrims vẫn bị trở ngại về ngôn ngữ cho nên rất khó khăn để thông cảm và hiểu nhau hơn trong thời gian này mặc dù Samoset ở lại với họ (Pilgrims) một thời gian ngắn. Sau đó Samoset ra đi và vài ngày sau anh trở lại cùng với Squanto nói rành rẽ tiếng Anh. Squanto và Samoset bắt đầu dạy cho những người định cư biết cách săn thú rừng, câu cá và trồng bắp.

LỄ TẠ ƠN ĐẦU TIÊN.

Với sự giúp đỡ của Squanto những người định cư Pilgrims đã thành công trong việc trồng trọt và họ thu hoạch được vụ mùa tốt đẹp vào tháng 09. Trong vụ mùa này người di cư Pilgrims cũng để dành được một số lương thực dự trữ cho mùa đông tới. Thống Đốc William Bradford (người định cư Pilgrims) đã tuyên bố làm lễ Tạ Ơn vào giữa tháng 09, ngày đó Squanto và những người da đỏ khác cũng được mời đến tham dư. Đó là ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên được tổ chức ăn mừng, cuộc vui chơi được kéo dài đến ba ngày.

DUY TRÌ NGÀY LỄ TẠ ƠN.

Ngày lễ Tạ Ơn thường là sau vụ mùa hằng năm. Tuy nhiên đến năm 1863 Tổng Thống Abraham Lincoln chính thức công bố, chọn ngày thứ năm của cuối tháng 09 là ngày lễ Tạ Ơn và sẽ trở thành ngày lễ chính của quốc gia. Đến tháng 09 năm 1941 Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đã đổi lại ngày lễ Tạ Ơn sẽ là ngày thứ năm trong tuần lễ thứ tư của tháng 09 và chính thức là ngày lễ của Quốc Gia( có nghĩa là sai biệt nhau một tuần).

Mặc dù ngày lễ Tạ Ơn không phải là ngày lễ truyền thống của dân tộc Việt, nhưng thời gian chúng ta sinh sống nơi đây đã hơn ba mươi năm cho nên đã trở thành quen thuộc. Ngày Tạ Ơn đã thật sự gắn liền mật thiết trong đới sống chúng ta như một ngày không thể thiếu. Chiếc tàu Mayflower hay những chiếc thuyền nan đánh cá của người Việt Nam vượt biển tìm tự do năm 1975 chắc chắn đã mang nhiều kỷ niệm của sự khổ đau, khắc nghiệt, nhưng giữa hai nhóm người di cư rất khác biệt nhau ở mục đích ra đi. Dù ra đi bằng cách nào, lý tưởng nào thì những những chuyến ra đi đều chứa đầy nước mắt và đánh nỗi mạng sống của mình với bão táp. Đối với cuộc hải hành của người Việt năm 75 là cuộc vượt trùng dương ghi vào lịch sử của thế giới loài người trong thế kỷ 20. Đầy máu, nước mắt, thảm cảnh, nghiệt oan, chết chóc, kêu gào, nhục nhã có lẽ không còn ngôn ngữ nào trên thế gian này có thể diễn tả hết được nỗi nghiệt oan của một con người và một Quốc Gia VN đầy bất hạnh. Hôm nay được sống trong sự bình an, hạnh phúc tự dưng lòng tôi như quặn đau khi nhớ lại một hóp nước lã của người bạn năm xưa cho tôi đỡ chết khát trên chiếc thuyền đang lênh đênh không bờ bến. Và một bữa cơm đầu tiên khi đặt chân lên đất liền của một gia đình người bạn Mỹ. Tôi nghĩ trong chúng ta ai cũng có ít nhiều kỷ niệm khổ đau trong cuộc đổi đời để biến thành người lưu vong. Thật tình tôi không dám nói ra nhiều những điều khổ đau của hơn ba mươi năm, tôi e sẽ gợi lại trăm ngàn vết thương trong lòng mọi người. Hôm nay tôi chỉ muốn nói lời cám ơn Thương Đế cho chúng ta được một cuộc đời may mắn và tôi cũng xin cám ơn người bạn năm xưa trong một đêm Thanksgiving dưới ánh đèn mờ nhạt, cô đơn và nước mắt. Tôi xin được viết lại bài thơ mà lâu rồi chưa được gởi:

BUỔI TỐI THANKSGIVING

Tôi trở về ghé thăm người bạn cũ
Mái tóc năm xưa, nay chớm bạc màu
Căn gác nhỏ đìu hiu như hoang phế
Đường chung cư vàng cỏ, Lối tôi về
Mười năm trước hai đứa cùng lận đận
Mười năm sau khoảng cách vẫn chưa gần
Đời lặng lẽ em gầy hơn lớp tuổi
Dáng kiêu sa đôi nét đã phong trần
Màu son nhạt. Vẫn nụ cười rất ấm
Tôi niềm đau từ một chỗ xa xăm
Ngày Tạ Ơn vui buồn ly rượu mới
Đất nợ Trời. Tôi cũng nợ ơn em
*
Tôi trở về. Mùa hoa treo trên phố
Buồn xoay ngang còn lại một đêm dài
Mười năm biệt. Buồn vui ly rượu nhỏ
Cạn môi nhau. Ấm – Lạnh quá bẽ bàng
Bữa ăn cũ nến tàn chưa đủ ấm
Chiếc bàn quen lạ khách quá ngu ngơ
Miếng thịt nhỏ vàng trơ trên mặt đĩa
Lạnh ân tình. hai đứa cố nhìn nhau
Đã mười năm. Góc đời tôi bỗng hẹp
Kỷ niệm mòn từng dấu vết trong em
Vẫn nụ cười bao dung mùa hoa trái
Tôi tiếc hoài một thuở đã nhạt phai
Đời cơm áo có ngậm ngùi để nhớ
Có ơn em trãi rộng bước đêm dài

Linh Vũ

VATICAN Đức Thánh cha triệu tập hội đàm về các linh mục đã lập gia đình

THÀNH PHỐ VATICAN (UCAN) – Đức Thánh cha Bênêđictô XVI sẽ chủ trì một cuộc hội đàm cấp cao hôm nay để thảo các vấn đề liên quan đến các linh mục Công giáo thuộc nghi lễ Latin đã lập gia đình.

Quốc vụ khanh Tòa Thánh và tất cả các vị đứng đầu chín Thánh bộ, 11 hội đồng và ba tòa án của Giáo triều Rôma sẽ tham dự cuộc họp dài một ngày do Đức Thánh cha triệu tập.

Đức Thánh cha triệu tập cuộc họp “nhằm nghiên cứu tình hình được đặt ra do sự bất tuân của Tổng Giám mục Emmanuel Milingo” và suy nghĩ về “những yêu cầu miễn bắt buộc sống độc thân” và “những yêu cầu lãnh nhận lại thừa tác vụ tư tế của các linh mục đã lập gia đình trong những năm gần đây”.

Tòa Thánh quan ngại đặc biệt về việc Tổng Giám mục Milingo phong chức cho bốn giám mục hôm 24-9 mà không có sự chấp thuận của Đức Thánh cha. Hai ngày sau đó, Tòa Thánh tuyên bố Tổng Giám mục Milingo và bốn giám mục ngài tấn phong đã bị mắc vạ tuyệt thông.

Hồi tháng 7, tổng giám mục chống đối này đã thành lập phong trào “Các Linh mục đã lập gia đình hiện nay!” ở Mỹ như là một phần trong sứ mệnh được ngài xem là mang lại sự hòa giải và tái tham gia thừa tác vụ tư tế của khoảng 150.000 linh mục Công giáo đã bỏ Giáo hội đi lập gia đình.

Tổng Giám mục Milingo sống với Maria Sung, một người phụ nữ Hàn Quốc mà ngài đã cưới vào năm 2001 tại một nghi lễ theo phong trào Thống nhất, nối nghiệp Giáo hội Thống nhất. Mục sư Sun Myung Moon, người sáng lập phong trào Thống nhất, đã chủ trì nghi lễ này. Tổng giám mục này dự định tổ chức một cuộc họp trong khu vực thành phố New York từ ngày 8-10/12 với 1.000 linh mục đã lập gia đình và vợ của họ.

Một số viên chức tại Vatican lo ngại rằng Tổng Giám mục Milingo có thể tạo ra sự ly giáo trong Giáo hội, giống như cố Tổng Giám mục người Pháp Marcel Lefebvre đã làm vào năm 1988, sau khi phản đối những cải cách được thi hành sau Công đồng Vatican II, ngài đã tấn phong bốn giám mục mà không có sự chấp thuận của Đức Thánh cha.

Tại hội đàm ở Vatican, Đức Giáo hoàng người Đức Bênêđictô còn muốn thảo luận với các cộng tác viên cấp cao của ngài về loạt thỉnh cầu dường như liên tục từ các linh mục yêu cầu miễn bắt buộc sống độc thân.

Các nguồn tin tại Vatican dự đoán trong những năm gần đây mỗi năm trung bình có 300 thỉnh cầu như thế được gởi tới, gần như một ngày một thỉnh cầu. Nhưng cũng theo các nguồn tin này, số linh mục thực sự bỏ thừa tác vụ mỗi năm nhiều hơn 300 người, vì nhiều người không màng đến việc xin phép miễn chuẩn.

Việc miễn chuẩn như thế có nghĩa là người đó được miễn chuẩn sống độc thân và những bổn phận tư tế, và có thể kết hôn trong Giáo hội. Theo Giáo luật thì trong trường hợp khẩn cấp người đó vẫn có thể ban Bí tích Xá giải. Một luật gia Giáo luật xác nhận rằng “phép chuẩn đời sống độc thân không liên can gì đến tính hiệu lực của Bí tích Truyền chức”.

Đức Bênêđictô biết rõ tình hình này và thủ tục ban các phép giải như thế hiện nay, vì Thánh bộ Giáo lý Đức tin, mà ngài làm tổng trưởng trong 24 năm cho đến khi lên ngôi giáo hoàng vào 4-2005, có trách nhiệm về việc này đến tháng 2-1989.

Sau đó, nhiệm vụ này được giao cho Thánh bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, cho đến khi được giao lại cho Thánh bộ Giáo sĩ vào ngày 1-8 năm ngoái.

Điểm thứ ba và cũng là điểm cuối cùng trong chương trình nghị sự liên quan đến thỉnh cầu thu nhận lại các linh mục đã bỏ thừa tác vụ để lập gia đình. Các nguồn tin tại Vatican cho biết số đơn thỉnh cầu được thu nhận lại như thế đã tăng trong thời gian gần đây, và một số người dự đoán có khoảng 1.200 đơn trong vài năm qua.

Dường như trong khi có nhiều người muốn xin phép quay lại hoạt động thừa tác vụ, một số thỉnh cầu của các linh mục hiện đã lớn tuổi và mong muốn ít nhất là được phép cử hành Thánh lễ trở lại, cho dù họ không thể trở lại công khai thực hiện thừa tác vụ.

Đây là vấn đề rất nhạy cảm, và Đức Bênêđictô muốn nghe ý kiến của các cộng tác viên cấp cao của ngài về vấn đề này.

Mặc dù các nghị phụ nghe nói nhiều về việc thiếu linh mục trầm trọng trong nhiều quốc gia, họ vẫn bỏ phiếu áp đảo (202 phiếu thuận, 28 phiếu chống và 10 phiếu trắng) “khẳng định tầm quan trọng của ơn gọi sống độc vô giá trong Giáo hội dành cho linh mục theo nghi lễ Latin.

Họ còn nhất trí rằng đề xuất phong chức cho những người đàn ông đã có gia đình trưởng thành “được xem là đường lối không nên đi theo”, một lập trường được mong là Đức Thánh cha Bênêđictô sẽ tái xác nhận trong Tông huấn hậu thượng hội đồng về Thánh Thể, mà ngài sẽ công bố trong những tháng tới.

Gerard O’Connell

Cuộc tao phùng sau 20 năm: người con trai đã nhận mẹ của mình

WESTMINSTER, California – Cuối cùng, sau 3 tháng từ Việt Nam sang Hoa Kỳ, lang thang khắp hang cùng ngõ hẹp miền Nam California, câu chuyện người mẹ đi tìm con sau 20 năm xa cách, đã khép lại với một kết thúc có hậu: Người mẹ đã tìm được con trai mình; người con trai đã nhận mẹ là mẹ mình.

Người mẹ ấy đã tìm ra con trai, khi chân bà “không còn nhấc lên được nữa,” khi mắt bà “bắt đầu lòa đi vì khóc.”

Cho đến ngày 20 Tháng Mười Một, tức là mới cách đây 3 ngày, Bảo Quốc Tuấn, tên người con trai, vẫn nhất mực không nhận bà Nguyễn Thị Hải là mẹ. Khi bà Hải ôm chầm lấy Tuấn, đang ngủ dưới một lớp mền trong một khu chợ Việt Nam tại San José, Tuấn hốt hoảng, lặp đi lặp lại: “Dì đã nhận lầm người rồi!”

Hình ảnh của Tuấn được gởi đi cho tất cả những ai đã từng biết và từng cưu mang Tuấn. Bà Hải nhờ tất cả những ai đã từng biết Tuấn, hãy khẳng định giùm bà một điều mà linh cảm của người mẹ đã khẳng định: “Ðây chính là con trai tôi!”

Một trong những người có thể nhận diện chính xác Bảo Quốc Tuấn là một thanh niên Việt Nam sinh sống tại Los Angeles. Anh Kevin Trần, từng cưu mang Tuấn một tháng, khi nhận được tấm hình đen trắng, được fax đi từ Người Việt, lưỡng lự: “Tôi không tin đây là Tuấn.” Ngày hôm sau, 21 Tháng Mười Một, Kevin yêu cầu được xem lại hình màu. Anh kết luận, một kết luận đi cùng điều kiện: “Khuôn mặt này là Tuấn. Và đây sẽ là Tuấn nếu người thanh niên này có một vết thẹo trên ngực.”

Người thanh niên ấy, quả thật, có một vết thẹo trên ngực, ngay vị trí Kevin miêu tả.

Bây giờ, chỉ còn một điều duy nhất, để có thể khép lại toàn bộ câu chuyện: Tuấn có thừa nhận mình là con của mẹ? Hay Tuấn vẫn cứ nằng nặc “Dì đã nhận lầm người?”

Bà Hải khóc, như bà đã khóc từ bao tháng nay. Hôm nay, bà khóc vì sung sướng. Trong căn phòng đợi của bệnh viện tâm thần tại San José, lần đầu tiên bà khóc vì hạnh phúc: người thanh niên mà bà tin là con mình, nay đã nhận bà là mẹ. Anh đã nhớ lại mẹ mình. Anh nhớ chính xác tên những người ruột thịt trong gia đình. Nhìn những tấm hình gia đình bà Hải đưa, anh đã nói đúng tên thật, và cả “nickname” của từng người một. Ðiều gì khiến Tuấn né tránh nhận mẹ giữa nơi công cộng? Tuấn bị ám ảnh điều gì? Trong chốn riêng tư giữa mẹ và con, Tuấn thổ lộ rằng anh lo sợ cho sự an nguy của mình và mẹ khi vẫn “cảm thấy có người đang theo đuổi giết mình và làm hại gia đình mình.” Anh “muốn trốn chạy khỏi California, nhưng không được, phải sống trong nỗi lo sợ hàng giờ, hàng ngày và không dám nhận mẹ hôm Chủ Nhật chỉ vì sợ mẹ sẽ bị giết.”

Chỉ trước khi gặp Tuấn vài giờ đồng hồ, khi con đường đi tìm con vẫn còn mênh mông, bà nói với Người Việt: “Bằng mọi giá tôi phải tìm ra con tôi. Dù còn chút hơi tàn tôi sẽ vẫn đi tìm nó. Dù nó có như thế nào chăng nữa, nó vẫn là giọt máu của tôi. Nó có sai trái gì tôi tha thứ hết. Tôi sẽ đem nó về Việt Nam để bù đắp những khốn khổ mà nó đã trải qua, và để tôi sống những ngày cuối đời bên cạnh các con tôi.”

“Tôi xin tạ ơn tất cả!” Bà Hải nói trong nước mắt. Ðã có những tấm lòng thầm lặng, đã có những cụ già gần 80 tuổi, đã có những thanh niên lấy ngày nghỉ, đã có những thiếu nữ trong một tiệm nails, đã có những người chị tận San José, đã có những người anh ở Los Angeles, đã có những nhân viên bưu điện Việt Nam cầm trong tay tấm hình Tuấn, đã có những luật sư, bác sĩ, cảnh sát, doanh nhân… cùng góp một bàn tay trong câu chuyện bà mẹ đi tìm con. Tất cả, những ân nhân ẩn danh ấy, đã khiến điều tưởng chừng không thể được, trở thành sự thật.

 

Niềm vui của vợ là …

Bác Hoàng nói tôi cứ tưởng mình đã thương vợ nhất, nhưng mãi đến hôm nay thì mới biết suốt 40 năm qua chính tôi đã tướt đi hạnh phúc của bà ấy.

Bác Hoàng nói: “Ngày tôi lãnh nhận Bí tích rửa tội, vợ tôi hỏi – anh có biết hạnh phúc nhất của các bà vợ Công giáo là gì không ? – Rồi bà trả lời – Là được khoác tay chồng đi lễ nhà thờ vào mỗi Chúa Nhật”. Đối với bác ngày rửa tội là ngày đổi đời, vì chính lúc vợ nói ra điều đó, bác cảm nghiệm được con người cố chấp một chút do định kiến đã làm mình làm khổ vợ con suốt 40 năm, còn bây giờ nhờ Chúa, bác trở nên món quà hạnh phúc cho vợ mình.

Chị Phượng ở Pleiku thì kể vừa rồi một chị bạn Công giáo qua đời, nhưng vì nhà chồng bên lương, họ bảo con dâu là con họ, phải theo nghi thức họ muốn, nên họ mời thầy cúng đến cúng thay vì cho gia đình cha mẹ ruột của người chết đưa cô đến nhà thờ cầu nguyện theo cách của người Công giáo. Chị nói: “Đến con cũng lo sợ. Nếu chồng chết trước, anh muốn sao con lo cho như vậy, nhưng lỡ con chết trước thì không biết ảnh có cho đưa xác vào nhà thờ không?”

Điều tưởng chừng qúa đơn giản. Chuyện tâm linh, chuyện riêng của mỗi người ấy mà, nhưng trở nên trắc trở cho niềm vui thực cho đời sống hiện tại và cả đời sống vị lai nữa sao?

An Thanh, CSsR